.
.

Trở lại sân nhà

Thứ Ba, 20/12/2011|23:22

 

Ngày 4 tháng 10 năm 2011, một bản hợp đồng lớn giữa Vinashin (Tập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam) và Vinalines Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam đã được ký kết ở Hà Nội. Vinalines mua của Vinashin 20 chiếc tàu gồm 7 loại. Phần lớn trong số này là tàu đang ở giai đoạn hoàn thiện để bàn giao, nhưng chủ tàu nước ngoài đã xin huỷ hợp đồng trong  bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Bản hợp đồng khổng lồ này với tổng trọng tải trên 700 ngàn tấn tàu có thể xem là việc trở lại sân nhà của Vinashin, để ta làm cho ta trong giai đoạn tái cơ cấu theo đề án của Chính phủ.

Vinalines là khách hàng lớn và thân quen nhất của Vinashin và ngược lại Vinashin là nhà đóng tàu lớn nhất trong bản hợp đồng đóng tàu này.

Cũng cần nói thêm rằng, công nghiệp đóng tàu biển có nét đặc thù, đó là không thể đóng sẵn tàu để bày bán như những mặt hàng khác, không thể sản xuất hàng loạt như ô tô, xe máy... Nhà đóng tàu chỉ có thể cắt tôn, đặt ky những chiếc tàu khi đã có người đặt mua, đã ký hợp đồng. Còn con tàu khi đã đóng xong, thì trở thành công cụ sản xuất của một ngành khác.

Bởi vậy, ngành công nghiệp đóng tàu luôn được xem là ngành tạo ra công cụ sản xuất mới để phát triển kinh tế và tạo ra sức mạnh để tăng cường an ninh biển.

Chính vì những đặc thù này mà nhiều trang thiết bị cho một cơ sở đóng tàu lớn, không phải lúc nào cũng khai thác hết công suất. Do đó, không lấy làm lạ, khi giá thành một con tàu đặc chủng có giá bán rất cao.

Trở lại sân nhà của công nghiệp đóng tàu là một bước ngoặt lớn, sau khi đã thu được nhiều kinh nghiệm của thời kỳ đóng tàu xuất khẩu. Ta làm cho ta, chính là cái mà một quốc gia biển như Việt Nam đang cần.

Hãy nhìn ra biển, xem tỉ lệ tàu ta được bao nhiêu phần trăm so với tổng số tàu và hãy chia hơn một triệu km2 mặt nước biển thuộc lãnh hải quốc gia xem chúng ta có tỷ lệ bao nhiêu tấn trọng tải tàu trên một đơn vị diện tích (?). Và theo số liệu của Cục Hàng hải Việt Nam thì số tàu biển Việt Nam bị lưu giữ qua kiểm tra, đang có chiều hướng xấu. Chỉ tính riêng trong hai tháng 6 và 7 năm 2011, Trung Quốc đã giữ 8 tàu của Việt Nam còn Indonesia cũng đã giữ tới 15 tàu của ta. Con số này chỉ nói về tàu chất lượng không đạt, chứ chưa kể tới số tàu biển Việt Nam bị bắt giữ do liên quan tới nợ nần tài chính.
 
Các chuyên gia trong lĩnh vực Hàng hải đã khuyến cáo:

 

Đội tàu của Việt Nam cần trang bị lại cùng với việc nâng cao trình độ của sĩ quan thuyền viên để giảm tỷ lệ số tàu bị bắt giữ.

Trở lại sân nhà, để ta đóng tàu cho ta là công cuộc đổi mới ngành vận tải biển. Bởi thế, bản hợp đồng giữa Vinashin và Vinaline ngày 4/10 vừa qua là một dấu mốc quan trọng mang tầm vóc chiến lược để thực hiện mục tiêu của nền kinh tế biển.

Với Vinashin, việc đóng mới và hoàn thiện 20 chiếc tàu này sẽ phải tăng tốc để bàn giao đúng hẹn. Hai chục chiếc tàu với hơn bảy trăm ngàn tấn trọng tải được phân bổ ở các cơ sở lớn của Vinashin. Tổng công ty Nam Triệu (6 tàu); Tổng Công ty Bạch Đằng (4 tàu); Tổng Công ty Phà Rừng (8 tàu); Công ty Hạ Long (1 tàu); Công ty Cam Ranh (1 tàu).

Như vậy là Vinashin đã duy trì được sản xuất, ổn định được đời sống của hàng vạn lao động và bên cạnh họ là cũng bằng ấy gia đình người công nhân, không phải chỉ đủ việc những tháng còn lại của năm 2011 mà tiếp những năm sau đó. Thực sự đây là lời giải của bài toán khó trong quá trình tái cơ cấu của Tập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam.

Chúng tôi nhớ lại câu nói của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Đinh La Thăng, khi đến làm việc với Vinashin vào ngày 26 tháng 9 năm 2011 “Giúp Vinashin ở thời điểm này là hành động đáng quý”. Vinalines trở thành khách hàng lớn nhất đối với Vinashin trong giai đoạn khó khăn này, thực sự là “Nhiễu điều phủ lấy giá gương…”. Tất nhiên, phải có sự chỉ đạo và hỗ trợ từ Nhà nước. Vì vậy, thêm một lần Nhà nước đã định hướng cho Tập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam một hướng đi để trở lại sân nhà, để ta làm cho ta để chờ cơ hội vươn ra thị trường thế giới./.

 

                                                                                                Trọng Nghĩa

 

 

 

.
.
.
.